facebook_pixel

Cách Phòng Ngừa Đột Quỵ Mà Ai Cũng Cần Phải Biết

By Toàn Thắng Cát | Sức Khoẻ

Feb 13

Tai biến mạch máu não (đột quỵ, stroke) và Quản trị bệnh.

Nghe nói đến đột quỵ thì ai cũng biết và tất cả đều tỏ ra kinh hãi đột quỵ

Có người chỉ nghe kể. Có người là người trực tiếp điều trị tình trạng đột quỵ. Có người là người trực tiếp chăm sóc người bị đột quỵ. Có người đã mất người thân do đột quỵ.

Có rất nhiều ý kiến xung quanh việc phòng tránh đột quỵ, việc xử lý cấp cứu người bị đột quỵ và cả việc phục hồi sau đột quỵ nữa.

Việc xử lý cấp cứu người bị đột quỵ (thường là nhẹ hoặc bị lần đầu) bằng cách trích máu 10 đầu ngón tay và/hoặc dái tai và giữ nguyên trạng thái cơ thể của người bị đột quỵ gọi cấp cứu thì không làm giảm nguy cơ đột quỵ hoặc loại trừ nguy cơ ấy. Đột quỵ vẫn có thể (thường là chắc chắn) xảy ra nhưng nghiêm trọng hơn tiếp sau lần đầu (nhẹ) ấy.

Tình trạng đột quỵ thường là có dấu hiệu báo trước nhưng lại không được xử lý và quản trị đúng và cuối cùng dẫn đến tình trạng đột quỵ ngày càng nặng hơn và thậm chí có thể tử vong do đột quỵ.

Các dấu hiệu ban đầu của đột quỵ thường dễ nhận thấy nhất là trên vùng mặt hoặc vùng hàm-miệng-họng và cũng thường được chẩn đoán là “viêm dây thần kinh số 7” hoặc “viêm dây thần kinh số 5”. Việc xử lý các tình trạng này thiên về hướng điều trị lâm sàng với châm cứu+luyện tập và/hoặc dùng thuốc chống viêm và thuốc để điều chỉnh dẫn truyền thần kinh-cơ.
Về bệnh lý, trước hết phải nhận thức rằng các dấu hiệu của đột quỵ nói ở trên là cảnh báo về tình trạng bất thường của vận chuyển máu ở mạch máu vùng đầu-cổ chứ không phải thuần túy là các rối loạn về dẫn truyền thần kinh. Viêm dây thần kinh số x chỉ là hậu quả và là biểu hiện lâm sàng của tình trạng bệnh lý mạch máu vùng đầu-cổ.

Để đơn giản, hãy ghi nhận rằng tai biến mạch máu não (stroke) là mạch máu trong não hoặc bị nghẽn (do hẹp lòng mạch, do cục máu đông) hoặc bị vỡ mà cả hai tai biến này đều gây thiếu máu ở vùng não phía sau điểm nghẽn/điểm vỡ. Vùng não này nếu được xử trí kịp thời trong vòng 3-6 tiếng kể từ lúc bị thiếu máu thì có thể nhanh chóng phục hồi mà di chứng để lại ít nghiêm trọng, và ngược lại.

Không có hoặc rất ít người liên hệ những dấu hiệu ấy cảnh báo ấy đến tình trạng mất cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi (imbalanced mineral-electrolyte homeostasis) vốn liên quan chặt chẽ đến tính đàn hồi của thành mạch máu bao gồm sự dẫn truyền thần kinh-cơ, sự co cứng cơ (muscular spasm) hoặc nhược cơ (muscular weakness) của lớp cơ thành mạch máu, và cũng liên quan chặt chẽ với tình trạng kết tụ các tế bào máu và các protein trong máu (cục máu đông, blood clots). Nếu tình trạng mất cân bằng này không được xử lý và quản trị đúng thì các rối loạn tiếp theo sẽ nghiêm trọng hơn mà ở đây là các đợt đột quỵ tiếp theo sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn.

Thực tế là người ta tiếp tục dùng thuốc, đặc biệt là thuốc chống viêm, hoặc dựa vào châm cứu cộng với luyện tập để (hy vọng) khôi phục trạng thái bình thường sau đột quỵ.

Việc dùng thuốc luôn luôn gây nên tình trạng bài tiết (mất) nhiều hơn bình thường các chất khoáng và điện giải; việc dựa vào châm cứu và luyện tập làm chậm/làm mất cơ hội tốt để bù đắp chất khoáng và điện giải.

Việc sử dụng thuốc là có thể việc “phải làm” nhưng nếu chỉ dựa vào thuốc thì sẽ bị sa vào vòng xoáy xấu vì các chất thành phần của thuốc làm rối loạn bài tiết/tái hấp thu qua ống thận và do đó làm xấu thêm tình trạng mất cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi. Và cũng chính thực tế này cho thấy nguy cơ đột quỵ không những không được khắc phục mà còn làm tình trạng đột quỵ ngày càng hiển nhiên xảy ra theo thời gian.

Chế độ dinh dưỡng (dinh dưỡng lâm sàng bệnh đột quỵ) chưa hợp lý và bản thân sự tiêu hóa và hấp thu bị rối loạn ở người bị đột quỵ cũng góp phần làm cho sự mất cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi chậm được khắc phục. Chỉ có thiết lập lại sự cân bằng nội môi mới giúp thiết lập lại sự điều hòa các hoạt động của hệ thần kinh trung ương và các hoạt động của hệ thần kinh thực vật liên quan đến tiêu hóa và hấp thu sinh lý học của cơ thể.

Hãy bổ sung ngay và luôn (càng sớm càng tốt) chất khoáng Magnesium (Mg)!

Điều này sẽ giúp cơ thể dần dần lấy lại sự cân bằng nội môi về chất khoáng và điện giải.

Magnesium (dạng ion tự do [Mg2+] trong máu và trong mô) được biết là chìa khóa của sự chuyển hóa các ion chất khoáng và điện giải còn lại khác như Na+, K+ và Ca2+. Nói cách khác, khi thiếu hụt [Mg2+] thì dẫn đến mất cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi.

Magnesium dạng ion tự do [Mg2+] có các tác dụng sinh học (biological effects) đối với toàn bộ cơ thể và mô nào có nhu cầu đều có thể tiếp nhận và sử dụng và do đó nên được chú ý để bổ sung trong chế độ dinh dưỡng. Các dạng khác của magnesium cũng có tác dụng sinh học nhưng chậm hơn hoặc bị “lạc đường” không đến được mô đang rất cần nó mà ở đây là mô thành mạch máu và mô bị tổn thương do mất tưới máu và tưới máu lại.

Sự cân bằng nội môi này là nền tảng thiết yếu (essential platform) cho mọi hoạt động chuyển hóa của cơ thể. Cụ thể hơn, sự cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi sẽ giúp kiểm soát các dẫn truyền thần kinh, giúp điều hòa hoạt động của hệ thống các cơ (có tính đàn hồi, có trương lực), giúp tái tạo các protein chức năng của tế bào và của mô, v.v.
 
Khi lớp cơ của thành mạch máu có tính đàn hồi thì nó sẽ điều hòa huyết áp và bền vững trước những thay đổi đột ngột của huyết áp.

Ngay cả khi đã xảy ra đột quỵ, việc lưu ý đến yếu tố cân bằng chất khoáng và điện giải nội môi vẫn được đặt ra nhưng ở mức độ nghiêm khắc hơn thì mới nhanh chóng thoát khỏi vòng xoáy xấu của việc dùng thuốc trước, trong và sau khi đột quỵ và của việc can thiệp ngoại khoa (nếu có).

Việc quản trị cho khôi phục và duy trì cân bằng nội môi này là cách để khôi phục thực thể những tổn thương của mô não và/hoặc mô cơ do đột quỵ.

Follow

About the Author

Tư vấn y dược và dinh dưỡng tại Tuvanyd Co. (Cty Tư vấn Y Dược). "Thức ăn là thuốc của bạn. Thuốc cho bạn là thức ăn" (Hippocrates)

>
Malcare WordPress Security